Bà Triệu – Wikipedia tiếng Việt

Bởi zhYjASHK3Hd8Yd5wNX4XdNMHKuGwp6219
42 Lượt xem

Bà Triệu (chữ Hán: 趙婆), còn được gọi là Triệu Ẩu (趙嫗, “bà Triệu”), Triệu Trinh Nương (趙貞娘), Triệu Thị Trinh (趙氏貞), Triệu Quốc Trinh (8 tháng 11 năm 226 – 4 tháng 4 năm 248), là một trong những vị anh hùng dân tộc trong lịch sử Việt Nam.

Năm 226, Sĩ Nhiếp mất, vua Đông Ngô là Tôn Quyền bèn chia đất từ Hợp Phố về bắc thuộc Quảng Châu Trung Quốc dùng Lã Đại làm thứ sử ; từ Hợp Phố về nam là Giao Châu, sai Đới Lương làm thái thú ; và sai Trần Thì làm thái thú Q. Giao Chỉ. Lúc bấy giờ, con của Sĩ Nhiếp là Sĩ Huy tự nối ngôi và xưng là thái thú, liền đem binh chống lại .
Bản đồ Tam quốc năm 262, Đông Ngô trấn áp Giao Châu .

Thứ sử Lã Đại bèn xua quân sang đánh. Do nghe lời chiêu dụ, Sỹ Huy cùng năm anh em ra hàng. Lã Đại đem chém tất cả rồi đem đầu gửi về Vũ Xương. Dư đảng của Sỹ Huy tiếp tục chống lại, khiến Lã Đại mang quân vào Cửu Chân giết hại một lúc hàng vạn người.

Mục Lục

Cuộc đời và sự nghiệp

[sửa|sửa mã nguồn]

Bà Triệu sinh ngày 2 tháng 10 năm Bính Ngọ ( 8 tháng 11 năm 226 ) [ 1 ] tại miền núi Quan Yên ( hay Quân Yên ), Q. Cửu Chân, nay thuộc làng Quan Yên ( hay còn gọi là Yên Thôn ), xã Định Tiến, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa .Từ nhỏ, bà sớm tỏ ra có chí khí hơn người. Khi cha bà hỏi về chí hướng tương lai, tuy còn ít tuổi, bà đã rắn rỏi thưa : “ Lớn lên con sẽ đi đánh giặc như bà Trưng Trắc, Trưng Nhị ”. Cha mẹ đều mất sớm, Bà Triệu đến ở với anh là Triệu Quốc Đạt, một hào trưởng [ 2 ] ở Quan Yên .Lớn lên, bà là người có sức mạnh, giỏi võ nghệ, lại có chí lớn. Đến năm 19 tuổi gặp phải người chị dâu ( vợ ông Đạt ) ác nghiệt, [ 3 ] bà giết chị dâu rồi vào ở trong núi Nưa ( nay thuộc những thị xã Nưa huyện Triệu Sơn, xã Mậu Lâm huyện Như Thanh, xã Trung Thành huyện Nông Cống, Thanh Hóa ), chiêu mộ được hơn ngàn tráng sĩ .Mùa xuân năm Mậu Thìn ( 248 ), thấy quan lại nhà Đông Ngô ( Trung Quốc ) gian ác, dân khổ sở, Bà Triệu bèn bàn với anh việc khởi binh chống lại. Anh thấy thế mới can bà, thì bà bảo rằng “ Tôi chỉ muốn cưỡi cơn gió mạnh, đạp luồng sóng dữ, chém cá trường kình ở biển Đông, lấy lại giang sơn, dựng nền độc lập, cởi ách nô lệ, chứ không chịu khom sống lưng làm tì thiếp cho người ! ”Từ hai địa thế căn cứ núi vùng Nưa và Yên Định, hai đồng đội bà dẫn quân đánh chiếm huyện trị Tư Phố [ 4 ] nằm ở vị trí hữu ngạn sông Mã. Đây là địa thế căn cứ quân sự chiến lược lớn của quan quân nhà Đông Ngô trên đất Cửu Chân. Thừa thắng, lực lượng nghĩa quân chuyển hướng xuống hoạt động giải trí ở vùng đồng bằng con sông này .

Đang lúc ấy, Triệu Quốc Đạt lâm bệnh qua đời.[5] Các nghĩa binh thấy bà làm tướng có can đảm, bèn tôn lên làm chủ. Bà đã phối hợp với ba anh em họ Lý ở Bồ Điền đánh chiếm các vùng đất còn lại ở phía Bắc Thanh Hóa ngày nay, đồng thời xây dựng tuyến phòng thủ từ vùng căn cứ Bồ Điền đến cửa biển Thần Phù (Nga Sơn, Thanh Hoá) để ngăn chặn viện binh của giặc Ngô theo đường biển tấn công từ phía Bắc. Khi ra trận, Bà Triệu mặc áo giáp vàng, đi guốc ngà, cài trâm vàng, cưỡi voi trắng một ngà[6] và được tôn là Nhụy Kiều tướng quân. Quân Bà đi đến đâu cũng được dân chúng hưởng ứng, khiến quân thù khiếp sợ. Phụ nữ quanh vùng thúc giục chồng con ra quân theo Bà Triệu đánh giặc. Để chia rẽ nghĩa quân, giặc đã xảo quyệt phong cho Bà Triệu đến chức Lệ Hải Bà Vương (nữ vương xinh đẹp của vùng ven biển), song Bà không một chút xao động. Để mua chuộc Bà Triệu, giặc bí mật sai tay chân thân tín tới gặp và hứa sẽ cung cấp cho Bà thật nhiều tiền bạc, song, Bà cũng chẳng chút tơ hào. Sau nhiều trận trực tiếp đối địch và cũng là hơn nhiều trận liên tiếp chịu nhiều thất bại đau đớn, hễ nghe tới việc phải đi đàn áp Bà Triệu là binh lính giặc lại lo lắng đến kinh hồn bạt vía. Tương truyền, quân Ngô khiếp uy dũng của Bà Triệu nên phải thốt lên rằng:

Hoành qua đương hổ dị,
Đối diện Bà vương nan.

Dịch :

Múa giáo đánh cọp dễ,
Đối mặt Vua Bà thì thực khó.

Được tin cuộc khởi nghĩa lan nhanh, [ 7 ] vua Ngô là Tôn Quyền liền phái tướng Lục Dận ( cháu của Lục Tốn ), sang làm Thứ sử Giao Châu, An Nam hiệu úy, đem theo 8.000 quân sang đàn áp cuộc khởi nghĩa. Đến nơi, tướng Lục Dận liền dùng của cải mua chuộc 1 số ít lãnh tụ địa phương để làm suy yếu và chia rẽ lực lượng nghĩa quân .Những trận đánh ác liệt đã diễn ra tại địa thế căn cứ Bồ Điền. [ 8 ] Song do chênh lệch về lực lượng và không có sự tương hỗ của những trào lưu đấu tranh khác nên địa thế căn cứ Bồ Điền bị vây hãm cô lập, và chỉ đứng vững được trong hơn hai tháng .

Theo Trần Trọng Kim trong Việt Nam sử lược, bà chống đỡ với quân Đông Ngô được năm, sáu tháng thì thua. Bà Triệu đã tuẫn tiết trên núi Tùng (xã Triệu Lộc, huyện Hậu Lộc, Thanh Hóa) vào năm Mậu Thìn (248), lúc mới 23 tuổi.[9]

Theo truyền thuyết thần thoại, sau khi tìm thấy thi thể nữ chủ tướng, ba bạn bè họ Lý đã đắp mộ chu toàn cho Bà ngay trên đỉnh núi. Không bao lâu sau đó, ba ông cũng đã tuẫn tiết dưới chân núi Tùng để giữ trọn lời thề với nữ chủ tướng của mình. [ 10 ]Nước Việt lại bị nhà Đông Ngô đô hộ cho đến 263 [ 11 ], khi Lã Hưng giết thứ sử Tôn Tư và dâng những châu cho Tào Ngụy, sau này là nhà Tấn .
Năm 19 tuổi, đáp lời người hỏi bà về việc chồng con, Bà Triệu nói :

Tôi chỉ muốn cưỡi cơn gió mạnh, đạp luồng sóng dữ, chém cá trường kình ở biển Đông, lấy lại giang sơn, dựng nền độc lập, cởi ách nô lệ, chứ không chịu khom lưng làm tì thiếp cho người![12]

Về sau vua Lý Nam Đế ( tức Lý Bí ) khen Bà Triệu là người trung dũng, sai lập miếu thờ, phong là : ” Bậc chính anh liệt hùng tài trinh nhất phu nhân ” .Sử gia Lê Tung ở thế kỷ 16 viết :

Triệu Ẩu (tức Bà Triệu) là người con gái ở quận Cửu Chân, họp quân trong núi, đánh phá thành ấp, các bộ đều theo như bóng theo hình, dễ hơn trở bàn tay. Tuy chưa chiếm giữ được đất Lĩnh Biểu như việc cũ của Trưng Vương, nhưng cũng là bậc hùng tài trong nữ giới.[13]

Vua Tự Đức ở thế kỷ 19 cũng viết:

Con gái nước ta có nhiều người hùng dũng lạ thường. Bà Triệu Ẩu thật xứng đáng là người sánh vai được với Hai Bà Trưng. Xem thế thì há có phải chỉ Trung Quốc mới có đàn bà danh tiếng như chuyện Thành Phu Nhân và Nương Tử Quân mà Bắc sử đã chép đâu.[14]

Hiện nay, nơi núi Tùng ( xã Triệu Lộc ) vẫn còn di tích lịch sử lăng mộ của bà. Cách nơi bà mất không xa, trên núi Gai ngay sát Quốc lộ 1 ( đoạn đi qua thôn Phú Điền, xã Triệu Lộc, cách thành phố Thanh Hóa 18 km về phía Bắc ) là đền thờ bà. Hằng năm, vào ngày 21 tháng 2 ( âm lịch ), người dân trong vùng vẫn tổ chức triển khai làm lễ giỗ bà .
Tên của bà được đặt cho 1 số ít địa điểm tại tỉnh Thanh Hóa như huyện Triệu Sơn ( từ năm 1964 [ 15 ] ) và xã Triệu Lộc ( thuộc huyện Hậu Lộc, từ năm 1954 ) .Tại nhiều tỉnh thành ở Nước Ta, tên bà cũng đã được dùng để đặt tên cho nhiều trường học và đường phố ; riêng tại TP. Hà Nội, có một con đường mang tên phố Bà Triệu, và tại Thành Phố Đà Nẵng cũng như vậy nhưng lại viết là Triệu Nữ Vương .Tháng 5 năm 2020, Firaxis Games xác nhận Bà Triệu sẽ là người chỉ huy nền văn minh Nước Ta trong bản lan rộng ra New Frontier Pass của game Civilization VI .

Thơ ca, câu đối[sửa|sửa mã nguồn]

Trong Đại Nam quốc sử diễn ca có đoạn “Bà Triệu Ẩu đánh Ngô”, khái quát rất sinh động:

Binh qua trải bấy nhiêu ngày,
Mới sai Lục Dận sang thay phiên thần.
Anh hùng chán mặt phong trần,
Nữ nhi lại cũng có lần cung đao.
Cửu Chân có ả Triệu Kiều,
Vú dài ba thước tài cao muôn người.
Gặp cơn thảo muội cơ trời,
Đem thân bồ liễu theo loài bồng tang.
Đầu voi phất ngọn cờ vàng,
Sơn thôn mấy cõi chiến trường xông pha.
Chông gai một cuộc quan hà,
Dù khi chiến tử còn là hiển linh.

Tương truyền quân Ngô khiếp uy dũng của Bà Triệu nên có câu :

Hoành qua đương hổ dị,
Đối diện Bà vương nan.
Dịch:
Múa giáo đánh cọp dễ,
Đối mặt Vua Bà thì thực khó.

Trong dân gian hiện cũng còn truyền tụng nhiều câu thơ ca và câu đối tương quan đến bà như sau :

  • Ru con con ngủ cho lành,
Để mẹ gánh nước rửa bành ông voi.
Muốn coi, lên núi mà coi,
Có bà Triệu tướng cưỡi voi, đánh cồng.
Túi gấm cho lẫn túi hồng
Têm trầu cánh kiếm cho chồng ra quân.
  • Tùng Sơn nắng quyện mây trời,
Dấu chân Bà Triệu rạng ngời sử xanh.
  • Cửu Chân trăm trận gan hơn sắt,
Lục Dận nhiều phen mắt đã vàng.
  • Trông bành voi, Ngô cũng lắc đầu, sợ uy Lệ Hải Bà Vương, những muốn bon chân về Bắc quốc;
Ngồi yên ngựa, khách đi hoài cổ, tưởng sự Lạc Hồng nữ tướng, có chăng thẹn mặt đấng nam nhi.”
(Khuyết danh)
  • Một đầu voi chống chọi với quân thù, sau Trưng nữ rạng danh bà Lệ Hải;
Ba thước vú tử sinh cùng đất nước, cho Ngô hoàng biết mặt gái Giao Châu.
Chí sĩ Dương Bá Trạc

Ngoài ra, trong Hồng Đức quốc âm thi tập và trong các tập thơ của các danh sĩ như Nguyễn Đôn Phục, Nguyễn Đôn Dự… đều có thơ khen ngợi Bà Triệu.

Vấn đề tương quan[sửa|sửa mã nguồn]

Đoạn cuối cuộc khởi nghĩa[sửa|sửa mã nguồn]

Lâu nay sử sách đều biên chép cuộc khởi nghĩa Bà Triệu thất bại, và bà đã tự vẫn năm 248. Tuy nhiên, GS Lê Mạnh Thát đã dẫn Thiên Nam ngữ lụcNgụy chí để kết luận rằng Bà Triệu đã không thua bởi tay Lục Dận, trái lại đã đánh bại viên tướng này. Lục Dận chỉ chiếm được vùng đất nay thuộc Quảng Tây và Bà Triệu đã giữ được độc lập cho đất nước đến khi Đặng Tuân được Tôn Hựu sai sang đánh Giao Chỉ vào năm 257[16]. Tuy nhiên, ý kiến mới mẻ này còn phải được sự đồng thuận của nhiều người trong giới.

Những bộ sử cổ chỉ gọi bà là Triệu nữ (cô gái Triệu), Triệu Ẩu. Những tên gọi Triệu Trinh Nương, Triệu Thị Trinh, Triệu Quốc Trinh… theo Văn Lang thì rõ ràng là mới đặt gần đây. Tác giả cho biết vấn đề tên gọi này (cũng như tên gọi của Bà Trưng) thuộc phạm trù ngôn ngữ Việt cổ và cách đặt tên người ở thời gian đầu Công nguyên, còn đang được nghiên cứu (tr. 33).

Ngoài ra, Bà Triệu còn được người đời tôn là Nhụy Kiều tướng quân (vị tướng yêu kiều) và Lệ Hải bà vương (vua bà ở vùng biển mỹ lệ)[17].

Riêng cái tên Triệu Ẩu (趙嫗), thấy xuất hiện lần đầu trong Nam Việt chí, Giao Châu ký (thế kỷ 4, 5) rồi đến Thái bình hoàn vũ (thế kỷ 10) dưới mục Quân Ninh (tức Quân Yên cũ)[18].

Trước đây, Hồng Đức quốc âm thi tập, Đại Việt sử ký toàn thư, Thanh Hóa kỉ thắng, Khâm định Việt sử Thông giám Cương mục… đều gọi bà là Triệu Ẩu. Sau, sử gia Trần Trọng Kim khi cho tái bản Việt Nam sử lược đã không giải thích mà chỉ ghi chú rằng: Bà Triệu, các kỳ xuất bản trước để là Triệu Ẩu. Nay xét ra nên để là Triệu Thị Chinh (tr. 52).

Kể từ đó có nhiều lý giải khác nhau, như :

  • Sử gia Phạm Văn Sơn: Vì người Tàu căm giận nên đặt tên là Triệu Ẩu (Ẩu có nghĩa là mụ) để tỏ ý khinh mạn (tr. 205).
  • Nhóm tác giả sách Lịch sử Việt Nam (trước thế kỷ 10, quyển 1, tập 1): Sách sử Trung Quốc gọi bà là Triệu Ẩu với nghĩa xấu (người vú em) (tr. 109).
  • Một số người lại giải thích “ẩu” nghĩa là con mụ họ Triệu, là bà già, hoặc là “nữ tù trưởng Triệu”.

Hình tượng vú dài[sửa|sửa mã nguồn]

Sách Giao Chỉ chí chép:

Trong núi ở quận Cửu Chân có người con gái họ Triệu, vú dài ba thước, không lấy chồng, họp đảng cướp bóc các quận, huyện, thường mặc áo ngắn màu vàng, chân đi giày mũi cong, ngồi đầu voi mà chiến đấu, sau chết làm thần.[19]

Sách Những trang sử vẻ vang giải thích: Phụ nữ khổng lồ, vú dài… là huyền thoại về bà Mẹ-Đất (terre-Mère, Déesse-Mère). Sau hình tượng đó được khoác cho bất kỳ một phụ nữ hiệt kiệt nào (tr. 129). Các tác giả sách Lịch sử Việt Nam (tập I) cũng đều cho rằng huyền thoại về một người phụ nữ có “vú dài ba thước” vốn rất phổ biến ở phương Nam, từ Hợp Phố đến Cửu Chân. Như truyện “Tẩy thị phu nhân”, “Tiểu quốc phu nhân” đều nói họ là những phụ nữ cao to và có vú dài đôi ba thước… Có thể, vì bà Triệu cũng là một người phụ nữ kiệt xuất, nên dân gian đã dùng hình tượng này khoác lên cho bà (tr. 345).

Sách tìm hiểu thêm[sửa|sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa|sửa mã nguồn]

Source: https://1hanoi.com
Category : Kiến trúc

BÀI VIẾT LIÊN QUAN